Tìm kiếm
Chào mừng bạn đến với trang điện tử của Tủ sách Thăng Long ngàn năm văn hiến.
Sách văn hóa - xã hội |  Bạn đang ở:Trang chủ » Sách văn hóa - xã hội
  • Đời sống tôn giáo, tín ngưỡng Thăng Long - Hà Nội
  • Thăng Long - Đông Đô - Đông Kinh - Hà Nội là kinh thành, kinh đô, thủ đô của nước Việt Nam từ năm Canh Tuất (1010), đây không chủ là trung tâm chính trị, văn hoá, xã hội của đất nước mà còn là nơi có một “không gian” tôn giáo, tín ngưỡng khá tiêu biểu, với một “hệ thống tôn giáo, tín ngưỡng” hết sức phong phú, góp phần làm nên một “Thăng Long ngàn năm văn hiến” với nhiều giá trị đặc sặc. Việc biên soạn và xuất bản cuốn sách “Đời sống tôn giáo, tín ngưỡng Thăng Long - Hà Nội” không chỉ có giá trị về mặt khoa học mà còn mang ý nghĩa thiết thực chào mừng đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội
  • Tác giả :   GS.TS Đỗ Quang Hưng
  • Bình chọn:
    (Tổng số: 1 - Trung bình: 5.00)
  •   Bình luận   |  Ý kiến của bạn |  Xem thêm sách cùng chủ đề
  •   Mời đọc một chương sách hay
Giới thiệu về sách

- Thăng Long - Đông Đô - Đông Kinh - Hà Nội là kinh thành, kinh đô, thủ đô của nước Việt Nam từ năm Canh Tuất (1010), đây không chủ là trung tâm chính trị, văn hoá, xã hội của đất nước mà còn là nơi có một “không gian” tôn giáo, tín ngưỡng khá tiêu biểu, với một “hệ thống tôn giáo, tín ngưỡng” hết sức phong phú, góp phần làm nên một “Thăng Long ngàn năm văn hiến” với nhiều giá trị đặc sặc. Việc biên soạn và xuất bản cuốn sách “Đời sống tôn giáo, tín ngưỡng Thăng Long - Hà Nội” không chỉ có giá trị về mặt khoa học mà còn mang ý nghĩa thiết thực chào mừng đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội của Nhà nước ta nói chung và Thủ đô Hà Nội nói riêng.

- Cuốn sách cung cấp cho người đọc cái nhìn sâu hơn về quá trình hình thành và phát triển, cũng như những vấn đề cơ bản của một số tôn giáo chính ở Hà Nội (Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao Đài và Hồi giáo).

- Cuốn sách không chỉ tiếp thu, kế thừa và hệ thống hoá những thành tựu nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước, mà còn đưa ra một số kết quả nghiên cứu, luận chứng mới có giá trị về “không gian tín ngưỡng tôn giáo” của Thăng Long - Hà Nội.

Chi tiết sách
  • Tác giả:  GS.TS Đỗ Quang Hưng
  • Nhà xuất bản: Nhà xuất bản Hà Nội 
  • Năm xuất bản:  2010
  • Tổng số trang:  360 trang
  • Kích thước:  16x24 cm
  • Mã số:  VHXH - Doi song TGTN
  Bình luận (12)  
PGS.TS. Nguyễn Chí Mỳ viết ngày 23/08/2011
Với 271 trang không kể mục lục và danh mục các tài liệu tham khảo, đọc xong bản thảo “Đời sống tôn giáo tín ngưỡng ở Hà Nội”, tôi có một số nhận xét sau: I. Mặt thành công của cuốn sách. 1.1 Nằm trong cơ cấu tủ sách Thăng Long ngàn năm văn hiến, cuốn sách “Đời sống tôn giáo tín ngưỡng ở Hà Nội” có vị trí xứng đáng và cần thiết trong tủ sách, bởi vấn đề tôn giáo luôn là vấn đề nhạy cảm. Cuốn sách thực sự góp một tiếng nói có sắc thái riêng trong tủ sách Thăng Long ngàn năm văn hiến. 1.2 Viết về một tôn giáo đã khó, viết về các tôn giáo hiện diện ở Thăng Long - Hà Nội lại càng khó hơn. Mặt khác, ở cuốn sách không chỉ là chuyện các tôn giáo, mà quan trọng hơn là dựng được bức tranh về đời sống tôn giáo tín ngưỡng và tính hiện thực, phong phú, đa dạng của nó qua lịch sử thăng trầm của Thăng Long - Hà Nội với những nét đặc trưng của nó mới là điều có ý nghĩa quyết định cho sự thành bại của cuốn sách. Tác giả đã vượt qua được cái ngưỡng của sự thử thách này qua 3 phần của cuốn sách. 3.1 Một thành công nữa của cuốn sách phải kể đến cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu là khoa học phù hợp với mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra. Qua cách phân tích đã cho người đọc không chỉ hiểu được các tôn giáo chính ở Thăng Long - Hà Nội mà còn giúp người đọc cảm nhận được một không gian thiêng, những đặc điểm của không gian thiêng - không gian tâm linh tôn giáo tín ngưỡng Thăng Long - Hà Nội (5 đặc điểm) và 6 đặc điểm về đời sống tôn giáo tín ngưỡng ở Hà Nội được rút ra ở lời kết là có căn cứ và bảo đảm được “tính khách quan của sự xem xét”. Qua thực hiện ba phần và lời kết của cuốn sách, thể hiện tác giả, với kiến thức uyên thâm, với sự lao động công phu, nghiêm túc khoa học, bước đầu đã đáp ứng được mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ mà đề tài cuốn sách đặt ra. II. Một số vấn đề trao đổi để tác giả tham khảo, nâng cao chất lượng cuốn sách 2.1 Một vài vấn đề cần được lý giải lôgic hơn, sâu hơn. - Các tôn giáo chính ở Hà Nội, tác giả trình bày có 6 tôn giáo, trong đó có Khổng giáo ở Hà Nội (tr.96 – 104) ở phần II, nhưng trong phần sinh hoạt tổ chức, tín ngưỡng ở phần III, lại không được tác giả đề cập đến. - Khi phân tích về đặc điểm không gian tâm linh, nên chăng có thể nêu một đặc điểm riêng về không gian tôn giáo gắn quyện với không gian văn hóa, bởi ở Thăng Long - Hà Nội ngàn năm văn hiến, đây là cái khó rạch ròi trong lịch sử… Ở các phần mục khác có liên quan, nên chăng cũng cần làm đậm thêm quan hệ tôn giáo và văn hóa (hoặc là văn hóa tôn giáo) để có cơ sở hơn khi nêu lên đặc điểm thứ 5 trong lời kết (tr.270). - Tôn giáo tín ngưỡng ở khu phố cổ Hà Nội: vòng xoáy của không gian tâm linh (tr. 18). Nhưng ở một số trang khác, tác giả lại cho rằng, để tạo ra vòng xoáy (vòng trong) thì phải kể đến cả Hoàng Thành. Như vậy liệu chỉ ở khu phố cổ đã tạo nên vòng xoáy chưa, hay dùng điểm nhấn là hợp lý. Mục 3.2 những hình thức thờ cúng của Đạo ở Hà Nội (tr.107 -118) mới đề cập cả nước nhiều hơn, còn đề cập và phân tích ở Hà Nội còn mờ. - Tin lành ở Hà Nội đã có mục 5.3: Tin lành miền Hà Nội từ 1954 đến nay (tr.145), nhưng ở trang 157 in chữ đậm: Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc) và chi hội Tin lành Hà Nội trong giai đoạn 1954 đến nay làm cho người đọc dễ cảm nhận là lặp. Mặt khác, ở đặc điểm 4 này lại trình bày quá nhiều về cơ cấu tổ chức. Và cũng ở mục này có a (tr.155) mà không có b. - Mục VI Đạo Cao đài ở Hà Nội (tr.164 – 168) mới dừng ở mô tả sự kiện, nên chăng cần có một số đoạn khái quát lại. 2.2 Cần cân nhắc thêm. - Sự kiện quân cờ đen và bức tượng treo trên cây sau khi “buộc vào bức tượng hai tai chúng cắt của một em bé công giáo” (tr.217). - “Sống phúc âm giữa lòng dân tộc” hay “Sống phúc âm trong lòng dân tộc” (?) (tr. 223). - Cần sửa lỗi ở các trang: 12, 13, 40, 81, 83, 85, 87, 89, 93, 96, 97, 98, 99, 100, 101, 112, 116, 131, 133, 138, 140, 142, 143, 147, 149, 151, 161, 171, 172, 190, 199, 221, 223, 235, 238, 248, 254… 2.3 Một vấn đề nữa cũng cần phải làm rõ là trong đề cương đã ký kết còn phần thứ 4 của cuốn sách: tôn giáo ở Hà Nội trong khung cảnh đổi mới đất nước hiện nay. Đây là phần quan trọng phân tích và dự báo xu thế phát triển của đời sống tôn giáo tín ngưỡng ở Hà Nội, giúp các nhà quản lý hoạch định và hoàn thiện chính sách tôn giáo, giúp xã hội đồng thuận, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc. Tác giả cần giải trình về phần này. Trên đây là một số ý kiến vừa để khẳng định cuốn sách, vừa để tác giả tham khảo nhằm nâng cao chất lượng cuốn sách khi ra mắt bạn đọc.
PGS.TS. Nguyễn Tá Nhí viết ngày 23/08/2011
1. Chúng ta có khá nhiều công trình nghiên cứu tìm hiểu vùng đất Thăng Long - Hà Nội về các lĩnh vực Văn học, Lịch sử, Chính trị, Kinh tế, Văn hóa giáo dục, Dân số… Nhiều công trình khoa học cũng có đề cập giới thiệu đến vấn đề tôn giáo tín ngưỡng, song vẫn chưa thấy có công trình chuyên khảo nào dùng đến 300 trang giấy mực để viết về đời sống tôn giáo tín ngưỡng ở Thăng Long - Hà Nội như tập bản thảo công trình này của GS.TS. Đỗ Quang Hưng. Vấn đề tưởng như cũ mà lại mới. Cũ là vì đời sống tôn giáo tín ngưỡng ở Hà Nội là cái gì đó ở ngay cạnh ta, nhìn trước nhìn sau, quay trái quay phải tưởng chừng đến đâu cũng vấp phải, sờ đâu cũng thấy ngay; thế mà lại rất mới mẻ, rất tân kỳ bởi vì tác giả đã thổi vào đấy những cứ liệu khoa học đích thực, những nhận định xác đáng để nó biết cử động, biết đứng dậy dẫn dắt người đọc đi đúng con đường mà tác giả tập sách muốn dẫn dắt khiến cho người đọc bị cuốn hút, phải lật dở đọc cho đến hết trang 276. Nói như thế để khẳng định ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn của công trình Đời sống tôn giáo tín ngưỡng ở Thăng Long - Hà Nội. 2. Bố cục của công trình rất hợp lý. Mở đầu tác giả công trình đã giới thiệu một không gian tâm linh tôn giáo của Thăng Long - Hà Nội một cách cẩn trọng tỉ mỉ đầy đủ, nhờ đó mà người đọc dường như đã cảm nhận được cả cái không khí trang nghiêm linh thiêng đang phả mạnh vào người. Trên cơ sở đó lầm nổi bật lên các hình thức tôn giáo chính đang có mặt ở Hà Nội là Phật giáo, Khổng giáo, Đạo giáo, Công giáo và đạo Tin lành, đạo Cao Đài. Tiếp đến tác giả lại lần lượt trình bày các sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng đã và đang diễn ra trong cái không gian thiêng vừa giới thiệu ở trên. Cách trình theo lớp lang từ dễ đến khó, từ chung đến riêng của tác giả đã thực sự thuyết phục người đọc. 3. Công trình khảo cứu Đời sống tôn giáo tín ngưỡng ở Thăng Long - Hà Nội có nội dung rất phong phú. Công trình không chỉ cung cấp cho người đọc những hiểu biết cơ bản nhất về lịch sử quá trình truyền giáo và những hoạt động sinh hoạt của các tôn giáo chính ở Hà Nội, mà tác giả còn lồng vào đó để giới thiệu với người đọc về kinh thành Thăng Long và thành Hà Nội thời thuộc Pháp. Chẳng hạn trang 17, 18, 19 tác giả giới thiệu tòa thành Hà Nội xây dựng đầu đời Nguyễn từ các cửa ra vào theo 4 hướng đông, tây, nam, bắc cho đến cột cờ, lầu gác, các cấu trúc của tòa thành. Hoặc như ở trang 178, 179, 180… tác giả giới thiệu về sự hình thành các phố cổ ở hà Nội như phố Ta, phố Tàu và cả phố tây nữa. Các tri thức hiểu biết về thành cổ, phố cổ này cũng thực sự hấp dẫn người đọc. 4. Tác giả công trình là nhà khoa học làm việc nghiêm túc cẩn trọng. khỏi phải nói đến các thao tác vận dụng tư liệu từ cổ chí kim, từ đông sang tây, từ lý thuyết đến thực tiễn để có được những nhận xét tinh tế hoàn hảo, mà chỉ cần nhắc đến ở đây hai ưu điểm của tác giả thể hiện trong công trình để thấy rõ tác phong thái độ thận trọng của ông. Một là tác giả đã tiếp thu đầy đủ có chọn lọc ý kiến đóng góp của các nhà khoa học trong đợt nghiệm thu đề cương chi tiết để đưa vào trong công trình những phần giới thiệu về Khổng giáo và Đạo giáo. Hai là khi sử dụng tư liệu của các tác giả khác, tác giả công trình này đều ghi rõ xuất xứ của tư liệu, kể cả của các tác giả trẻ vốn là học trò hoặc nhân viên dưới quyền quản lý của ông. Nói thì dễ, song làm được như GS. Đỗ Quang Hưng quả là việc làm đáng trân trọng. Cách làm này đã giúp cho chất lượng của công trình đạt kết quả cao hơn. 5. Ngoài những ưu điểm lớn như trình bày ở trên, tôi cũng xin có một số ý kiến muốn trao đổi thêm với tác giả. 5.1. Có một số trường hợp nên thống nhất cách trình bày ví dụ: - Ở trang 97 tác giả viết: quan hệ trời - đất - người, cả ba chữ đều không viết hoa, song đến trang 103 lại viết là: quan hệ Trời - Đất - Người. - Ở trang 71 tác giả viết: Chùa Liên Tông, đến trang 78 lại viết là chùa Liên Tôn. - Ở trang 140 viết là lễ Báp tem, đến trang 143 lại viết là lễ Báp têm. - Ở trang 61 tác giả cho biết năm 2007 ở Hà Nội có 5 hòa thượng, 14 thượng tọa, 5 ni trưởng, 8 ni sư. Đến trang 64 tác giả lại ghi là 6 hòa thượng, 7 ni trưởng, 13 ni sư. 5.2. Có một số từ sử dụng hoặc chú thích chưa thật đúng Ví dụ: - Ở trang 70, tác giả viết “một trong ba vị Tam tổ hành trạng”. Đề nghị bỏ bớt từ “hành trạng”. - Ở trang 107 tác giả viết: ở Nghệ An thường nhắc đến chuyện Từ Thức gặp tiên. Đề nghị đổi là Thanh Hóa. - Ở trang 51 tác giả ghi là chữ Phạn. Đề nghị đổi là tiếng Phạn. - Ở trang 111 tác giả viết là chữ Sa ma. Đề nghị đổi là từ Sa ma. 5.3. Một số đơn vị hành chính cũ đã thay đổi, đề nghị xem lại cách trình bày Ví dụ: - Ở trang 71, 96, tác giả viết nay là Hà Bắc, đề nghị đổi lại là Bắc Ninh. - Ở trang 191, tác giả viết nay là khu phố Hai Bà Trưng, đề nghị đổi lại là quận Hai Bà Trưng. 6. Kết luận Công trình nghiên cứu khoa học Đời sống tôn giáo tín ngưỡng Thăng Long - Hà Nội do GS.TS. Đỗ Quang Hưng vừa mới hoàn thành là một công trình khoa học có giá trị khoa học và ý nghĩa thực tiễn cao. Công trình đã được tác giả tổ chức bản thảo, thực hiện nghiêm túc, đạt chất lượng cao. Tôi xin trân trọng đề nghị Hội đồng nghiệm thu thông qua, để việc tổ chức in ấn được thuận lợi.
TS. Hoàng Phong Hà viết ngày 23/08/2011
Tôi đã đọc bản thảo “Đời sống tôn giáo tín ngưỡng ở Hà Nội” và xin có một số nhận xét sau: 1. Bản thảo gồm 3 phần, 276 trang, bao gồm cả phần tư liệu tham khảo; bố cục bản thảo và các phần hợp lý. Qua nội dung bản thảo tác giả đã cố gắng làm rõ được “không gian riêng”, đặc biệt - không gian tâm linh tôn giáo của Thăng Long - Hà Nội; nêu được hệ thông tôn giáo tín ngưỡng phong phú, điển hình của Thăng Long - Hà Nội; sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng của người dân Thăng Long - Hà Nội. Qua đó cho thấy tôn giáo, tín ngưỡng của Thăng Long - Hà Nội đã có những tác động, ảnh hưởng không nhỏ trong quá trình tồn tại và phát triển của Thăng Long - Hà Nội. Đọc xong nội dung, tôi thấy bản thảo đã đáp ứng được những yêu cầu do Hội đồng nghiệm thu đề cương chi tiết đề tài nêu ra vào ngày 18 - 1 -2008. 2. Nguồn tài liệu được sử dụng trong bản thảo khá phong phú và được chắt lọc. Các nguồn dẫn trong bản thảo đảm bảo độ tin cậy, văn phong trình bày ngắn gọn, súc tích. 3. Bản thảo đã được tác giả viết hết sức công phu, nghiêm túc, nội dung bản thảo bảo đảm, có thể đưa ra Hội đồng nghiệm thu và xuất bản. 4. Theo tôi bản thảo có giá trị hơn nếu bổ sung thêm: - Ở mục “Tế tự tại làng xóm, nơi công cộng” (trang 43) nên bổ sung thêm những tôn giáo tín ngưỡng thờ cúng cụ thể. - Mục “Thời kỳ nhà Trần” (trang 70) nên bổ sung thêm tư liệu về Phật giáo thời Trần. - Trang 179, 215: nên đề cập rõ hơn vai trò của quân Cờ Đen. - Nếu có điều kiện tác giả làm rõ hơn mối liên hệ, vị trí của đạo Tin Lành Hà Nội đối với đạo Tin Lành trong cả nước trong giai đoạn hiện nay. Bổ sung thêm những nỗ lực của Đảng và Nhà nước ta trong việc giải quyết “vấn đề Tin Lành ở Hà Nội”. Có thể thấy rằng, vấn đề tôn giáo tín ngưỡng là một vấn đề nhạy cảm và hết sức phức tạp. Viết về vấn đề này thật khó. Nhưng với bề dày kinh nghiệm nhiều năm nghiên cứu về lịch sử, tôn giáo, với tình cảm sâu nặng với Thăng Long - Hà Nội, với tâm huyết và trách nhiệm cao với đề tài được giao, GS.TS Đỗ Quang Hưng đã giải quyết khá thành công nội dung đề tài. Tôi trân trọng đề nghị Hội đồng xem xét và cho nghiệm thu bản thảo để đưa xuất bản.
TS. Nguyễn Mạnh Cường viết ngày 23/08/2011
Trước tiên xin chúc mừng GS đã hoàn thành bản thảo này đúng thời hạn và nội dung bản thảo bám sát đề cương được thông qua. Với cách viết mềm và uyển chuyển GS đã chuyển tải tất cả những gì mà mình cần thể hiện trong gần 300 trang bản thảo. Tôi đã đọc bản thảo này một cách say mê pha thêm một chút kiên nhẫn vì có quá nhiều lỗi chính tả. Sau khi đọc kỹ bản thảo, tôi xin có một vài nhận xét sau: 1. Về không gian thiêng Thăng Long – Hà Nội Tôi có dịp làm chuyên môn với GS gần 10 năm. Trong thời gian đó, ngoài một niềm tin vào Đảng Cộng sản Việt Nam, GS chưa mấy khi tin vào cái thiêng của tôn giáo nên khi viết về cái thiêng, một không gian thiêng quả là có phần hơi gượng. Cái giỏi của người cầm bút chính là ở đây; mặc dù lĩnh vực mình không thích nhưng cách viết cũng khá thuyết phục. Mọi chuyện được giải quyết khá trơn tru. Song theo tôi trong phần này GS hình như còn thiếu một lời giới thiệu về Hà Nội, cho dù là sơ lược. Cũng đúng thôi không chỉ có GS khi viết về Hà Nội, mà ngay cả chúng tôi khi viết Hà Nội cho người Hà Nội đọc thường quan niệm về Hà Nội nhỏ như cái đĩa vậy. Nhưng hình như Hà Nội nhân 1000 năm không chỉ viết cho người Hà Nội mà cho bạn đọc cả nước nên theo tôi vẫn cần có nhiều đoạn giới thiệu Hà Nội hiện nay và một ít Hà Nội trong quá khứ. 2. Các tôn giáo tín ngưỡng của người Hà Nội Về các tôn giáo tín ngưỡng cụ thể của người Hà Nội, tôi xin có vài ý như sau: 2.1. Phật giáo Thăng Long Hà Nội: Trước tiên xin sửa một chi tiết: trong phần Phật giáo Trúc Lâm GS có nói Ngô Thì Nhậm là “đệ tứ tổ” của thiền phái Trúc Lâm. Thật ra thì bản thân cụ Ngô Thì Nhậm sau những khảo cứu về thiền phái này chỉ xin được nhận là “đệ tứ tôn” chứ không phải là “đệ tứ tổ”. Trong mục đời sống của người Phật tử Thủ đô, GS sử dụng tư liệu của Minh Ngọc và Hoàng Thu Hương như minh chứng cho sự đa dạng cũng như những biến đổi của đời sống tâm linh. Tôi không hiểu với những tư liệu tốt như vậy tại sao GS không đưa ra nhận định của mình mà lại bỏ lửng. Sự gia tăng các hoạt động của các phái Phật giáo nhất là Làng Mai và Trúc Lâm Đà Lạt ở Hà Nội mới đây cũng không thấy GS nói tới. 2.2. Nho giáo và Đạo giáo Nho giáo – Đạo giáo rõ ràng là không thuộc thế mạnh của GS nên khi sử dụng tư liệu hoặc là cũ hoặc là chưa thật đủ cho dù cách trình bày là khá mạch lạc. Tại sao với Phật giáo GS không viết qua phần lịch sử nhưng ở hai tôn giáo này lại trình bày khá kỹ. Có thật Nho giáo là tổng hợp của hàng loạt tín ngưỡng như thành hoàng, như thờ cúng tổ tiên chăng? Đạo giáo và tín ngưỡng dân gian Thăng Long Hà Nội hai cái là một chăng? 2.3. Kitô giáo tại Hà Nội Về Kitô giáo tại Hà Nội, tôi thừa nhận GS là bậc thầy về lĩnh vực này nên cách trình bày rất tự tin trong sáng. GS đã vượt xa nhưng người đồng nghiệp khi viết về Kitô giáo tại Hà Nội. Song cái mà tôi thắc mắc là vì sao GS chỉ dừng lại ở khoảng năm 2000 còn gần đây lại không thấy nhắc tới, hoặc nhắc tới trên những báo cáo của UBĐKCG thì liệu có khách quan chăng? Khi đọc Kitô giáo tại Hà Nội mà GS trình bày, mọi cái dường như đều tốt. Vậy làm sao lý giải được các vụ việc tôn giáo có dính tới GHCGVN những năm gần đây? 2.4. Đạo Cao Đài Đạo Cao Đài hay trong sách GS gọi là những “người áo trắng” trong lòng Thủ đô là tôn giáo có ít người biết đến nhất thì GS lại dùng thủ pháp viết thẳng mà không có đôi trang viết về lịch sử hình thành tôn giáo này. Cái hay của Cao Đài có phải ở chỗ tứ giáo hoà đồng hay không? Nếu đúng thì đó là quá trình phát triển tâm linh người Việt đã lên tới đỉnh cao của nó chưa? GS cũng như tôi, nếu viết về Cao Đài Hà Nội cũng sẽ bị lệ thuộc vào các tư liệu do chính bản thân họ cung cấp; chỉ có điều khi viết phổ thông với đối tượng đọc rộng thì những ngôn từ của bổn đạo Cao Đài ta nên có chú thích. Phần Cao Đài có quá nhiều lỗi cả chính tả, cả niên đại cần rút kinh nghiệm. Nhìn chung đây là một bản thảo tốt, tập hợp khá nhiều những tư liệu và với một bút pháp mềm GS Hưng đã trình ra cho bàn dân thiên hạ một tập sách khá tròn trĩnh, biết né tránh những chỗ nhạy cảm thường thấy ở các công trình tôn giáo khác. Chỉ có điều cái gì vo tròn quá cũng hạn chế. Cái mạnh của công trình này là lý thuyết nhưng hạn chế ở tính thực tiễn. Đời sống tôn giáo của người Hà Nội, nhất là thời điểm sau 2000 đã có nhiều đổi thay nhanh chóng. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, đời sống tâm linh, tôn giáo của người Thủ đô cũng phát triển nhanh và đôi lúc thái quá. Bên cạnh các tôn giáo truyền thống là hàng loạt cái loại hình tôn giáo mới xuất hiện. Những yếu tố tôn giáo tín ngưỡng mới này mang đến đủ thứ tích cực có, tiêu cực có… Các ý kiến này đã được GS trình bày ở các phần của bản thảo song trên thực tế thì sách chưa chỉ ra cho mọi người thấy sự biến đổi và cách ứng phó rất hay của người Thăng Long Hà Nội trong lịch sử. Tôi lấy thí dụ: Thời phong kiến thì vương quyền và thần quyền thường gắn chặt với nhau. Khi tôn giáo và chính quyền hoà đồng cùng mục đích với quyền lợi dân tộc thì xã hội phát triển mạnh. Có nhiều tôn giáo ra đời do nhu cầu chiến tranh, khởi nghĩa nông dân giành chính quyền. . . . những lúc ấy tôn giáo như một hệ tư tưởng và là bệ đỡ chính, một chính thể tồn tại song hành nhau. Càng về gần đây, do nhu cầu phát triển của loài người thì tôn giáo tách ra khỏi chính trị, cũng có nghĩa là tách ra khỏi chính quyền, lúc ấy tôn giáo chỉ còn chức năng đơn là thờ cúng và tưởng niệm về một thời vàng son của nó. Tôn giáo nghiêng về đạo đức xã hội lấy nhân nghĩa và dạy con người sống sao cho có đạo, có tâm. Bên cạnh đó cũng bởi trí tò mò, cũng bởi quyền lực và quyền lợi, nhiều người sử dụng một khả năng khác của tôn giáo đó là sức mạnh siêu nhiên nguyên thuỷ của nó. Sức mạnh này là gắn con người với Thần thánh và bảo họ phải tin rằng mỗi con người có một số phận riêng của mình. Số phận này là do thần thánh ban cho bởi vậy con người phải có trách nhiệm tôn kính trời đất quỷ thần để mong có sự hoán cải nhằm làm tốt hơn số mệnh của mình. Chủ nghĩa Mác – Lê nin nhìn con người và thiên nhiên không theo cách đó. Con người đẻ ra tôn giáo hay tôn giáo là cách nhìn thế giới quan lộn ngược. Chủ nghĩa Mác khuyến khích con người đi theo cách nhìn biện chứng và duy vật. Cuộc cách mạnh tháng 8 năm 1945 dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đi theo con đường này. Đây chính là điều kiện không phải chỉ người Hà Nội mà người Việt Nam thay đổi nhãn quan sống, thay đổi cách nhìn nhận tôn giáo của mình. Song bản thân con người lại có cái gì đó hết sức phức tạp và luôn gằng xé trong sự vô thần và hữu thần. Đã bao nhiêu năm trôi qua cuộc đấu tranh giữa vô thần và hữu thần vẫn đang diễn ra và chưa có hồi kết. Rồi nghị quyết 24 của Bộ Chính trị năm 1990 có tác động thế nào tới đời sống tôn giáo tín ngưỡng người Thủ đô. Chắc chắn là có sự thay đổi, và đó chính là dấu mốc cho sự phát triển tôn giáo tín ngưỡng không chỉ người dân Thủ đô mà người dân cả nước. Những đặc điểm này tôi thấy GS đã có đề cập đến nhưng chưa rõ. Chính vì vậy, tôi vẫn nói rằng đọc sách của GS thì hay nhưng mọi người sẽ luôn tự hỏi nếu các tôn giáo đều tốt như GS đã trình bày vậy tại sao vẫn đang xẩy ra những vụ việc tôn giáo làm xôn xao dự luận. Những vụ Toà Khâm sứ Hà Nội (40 nhà Chung), Nhà thờ Thái Hà (178 Nguyễn Lương Bằng) như mở màn cho hàng loạt những vấn đề công giáo và tôn giáo cả nước, như: đòi đất, đòi nhà ở Nha Trang, Vĩnh Long và gần đây nhất là vụ chiếm toà ở Tam toà tỉnh Quảng Bình. . . Rõ ràng có dấu ấn kiểu “người công giáo Hà Nội” rất đáng lên án. Rồi Phật giáo Làng Mai về thủ đô có tác động đến đời sống tôn giáo tín ngưỡng người thủ đô hay không? Thiền phái Trúc Lâm (Đà Lạt) vừa mới đây cho xây tự viện lớn tại chùa Sùng Phúc (Gia Lâm) liệu có là dấu hiệu tranh giành Phật tử với Phật giáo Hà Nội cổ truyền không? Nhiều chư tăng đại đức ở Hà Nội bắt đầu lan toả ảnh hưởng của mình sang các tỉnh miền Bắc, thậm chí hoằng dương sang các nước là điều tốt hay là một chỉ dấu khác của sự ganh đua chia phái trong Phật giáo Hà Nội. Còn Tin lành Hà Nội với Tin lành người Mông và các tỉnh vùng núi phía Bắc sẽ ra sao?. .. Còn quá nhiều vấn đề làm biến đổi đời sống tôn giáo tín ngưỡng người thủ đô mà chỉ vẻn vẹn chừng hơn chục năm trở lại đây. 3. Vài nhận xét kiến nghị Để sách của GS ít bị tranh luận, tôi xin có một số đề nghị: - Nên đưa giới hạn không gian, thời gian nghiên cứu một Hà Nội trong sách gồm các quận huyện nào vì Hà Nội hôm nay to hơn khá nhiều lần so với Hà Nội mà Gs đã viết. - Nên trích giới thiệu tỉnh Hà Nội thời Nguyễn trong Đại Nam Nhất thống chí hay Hà Nội tỉnh chí để thấy được hình sông, thế núi và con người nơi đây ra sao, từ đó mới lý giải được vì sao nó là không gian Thiêng? - Nên có khái niệm chặt chẽ về Hà Nội hiểu theo nghĩa gì. Lúc nào thì GS gọi là Thăng Long? Lúc nào là Hà Nội? Khi nào thì gọi là Đại La. . . có như vậy, bạn đọc mới hiểu được. Bởi vì Hà Nội từ 1/8/2008 đã to hơn Hà Nội mà GS đang viết nhiều lần. - Vấn đề Cẩu mẫu Cẩu nhi trong tín ngưỡng của người Thăng Long – Hà Nội, vị trí của hai ngôi đền này trong quá trình hình thành đế đô Thăng Long chưa thấy GS đề cập đến. - Trong phần các tôn giáo cụ thể và đặc biệt là phần Phật giáo tác giả nên chỉnh sửa các đề mục ở đầu vì các đề mục quá sơ sài, quá ngắn dễ dẫn tới hiểu lầm rằng trình độ của GS chẳng nhẽ chỉ như vậy sao? Không nên lệ thuộc quá nhiều vào tư liệu của một tác giả như Nguyễn Lang. - Trong 6 đặc điểm mà GS đưa ra ở phần kết luận tôi thấy đặc điểm 5 và 6 gần nhau nên gộp lại làm một trở thành đặc điểm 5 còn đặc điểm 6 theo tôi sẽ là mối quan hệ giữa tôn giáo, tín ngưỡng của người Hà Nội với chính quyền Hà Nội trong những năm gần đây. Trên đây là một số nhận xét của tôi khi đọc bản thảo sách Đời sống tôn giáo tín ngưỡng ở Hà Nội của GS Hưng chỉ nhằm làm cho bản thảo hay hơn, chặt chẽ hơn, chứ không có ý lật lại vấn đề chuyên môn. Tôi kính đề nghị cho nghiệm thu bản thảo sau khi tác giả đã sửa lại các lỗi chính tả, có một số lỗi thuộc về tư liệu đã quá cũ và nhất là một lỗi về chuyên môn như đã chỉ ra.
TS. Đậu Tuấn Nam viết ngày 23/08/2011
1. Về vấn đề nghiên cứu Tôi đã đọc bản thảo cuốn sách “Đời sống tôn giáo, tín ngưỡng Thăng Long - Hà Nội” với sự quan tâm sâu sắc. Tôi cho rằng, đây là một trong những vấn đề được giới nghiên cứu trong và ngoài nước cũng như dư luận xã hội ở nước ta gần đây rất quan tâm, nhất là Hà Nội đang hướng tới kỷ niệm 1000 năm tuổi. Do đó, cuốn sách này ra đời có vừa có tính thời sự và mang tính thực tiễn. Cũng đã có khá nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về tôn giáo và đời sống tôn giáo ở Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng. Dù vậy, vấn đề nghiên cứu và những phát hiện trong cuốn sách này vẫn đảm bảo tính nguyên tắc không trùng lặp với những nghiên cứu đã được xuất bản. 2. Về phương pháp nghiên cứu Điều quan trọng nhất/cái chủ đích cốt lõi nhất của cuốn sách này là nghiên cứu đời sống tôn giáo Thăng Long - Hà Nội. Đây là vấn đề khó, vì nếu cứ viết theo vết mòn thì người đọc sẽ không thấy được đời sống tôn giáo của Thăng Long - Hà Nội. Tuy nhiên, ở đây tác giả cuốn sách mà trực tiếp là GS, TS Đỗ Quang Hưng đã nhìn thấy được vấn đề, tránh được điểm yếu có thể xảy ra. Có lẽ vì thế nên cuốn sách cuốn sách này (vì không theo vết mòn như các nghiên cứu thường thấy là mô tả lịch sử tôn giáo - mà cũng chưa có sách nào nói về tôn giáo ở Hà Nội, chỉ có một số sách viết về các tôn giáo cụ thể như Phật giáo có bao nhiêu chùa, lịch sử phát triển ra sao; rồi thì Công giáo được truyền giáo vào Việt Nam như thế nào…) cho chúng ta thấy, bằng phương pháp tôn giáo học đời sống tôn giáo được thể hiện rất rõ, tức là có cả cái sinh hoạt tôn giáo cụ thể chứ không phải mô tả như trước đây. 3. Về nội dung Kết cấu theo 3 phần với các tiết và tiểu tiết như trình bày trong bản thảo cuốn sách là tương đối hợp lý. Vì với dung lượng mà cuốn sách chuyển tải đến với công chúng là khá lớn. Phải nói rằng, chưa bao giờ có một công trình nghiên cứu tổng hợp về đời sống tôn giáo như thế này. Dù mới chỉ là ở Hà Nội, nhưng đây là một công trình nghiên cứu tổng hợp cung cấp một cách đầy đủ nhất về tôn giáo và đời sống tôn giáo ở Hà Nội (phần 1 là không gian tâm linh tôn giáo Thăng Long-Hà Nội; phần 2 là các tôn giáo chính ở Hà Nội; phần 3 là sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng của người Thăng Long-Hà Nội). Cuối cùng tác giả đã dành nhiều tâm huyết và công sức cho Lời kết của cuốn sách với những nhận định cốt lõi nhất về kết quả nghiên cứu của mình. Phải nói rằng, có nhiều nhận xét rất đánh chú ý, thậm chí rất mạnh dạn và rất bản lĩnh của một nhà nghiên cứu có nhiều thời gian trải nghiệm ở lĩnh vực này. Vì vậy, có thể thấy trên cơ sở nghiên cứu toàn diện tôn giáo và đời sống tôn giáo ở Hà Nội tác giả đã rút ra được những đặc điểm về tôn giáo ở Hà Nội rất thuyết phục. Đó là những đặc điểm về không gian tâm linh Hà Nội theo 3 vòng - điều này quả là khá mạnh dạn. Thiết nghĩ, người có bề dày trải nghiệm và một chút tâm huyết nữa mới có được những nhận xét sâu sắc đến vậy. Vì tôi cũng chưa thấy có công trình nghiên cứu nào đưa ra đặc điểm không gian tâm linh Hà Nội theo 3 vòng như vậy. Hay như đặc điểm sinh hoạt tôn giáo của người Hà Nội qua cuốn sách này được định vị lên rất rõ, nó không giống với người dân ở Huế hay Thành phố Hồ Chí Minh. Vì đời sống tôn giáo ở Hà Nội nó không sâu sắc đến mức trở thành mộ đạo/đạo dòng như người miền Nam, người Huế. Những nhận xét đại loại như vậy là rất sâu sắc và tinh tế. 4. Đánh giá chung Đây là một công trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc, có tính thời sự và mang tính thực tiễn cao.
PGS.TS. Ngô Hữu Thảo viết ngày 23/08/2011
Đọc bản thảo cuốn sách: "Đời sống tôn giáo, tín ngưỡng Thăng Long - Hà Nội" của GS.TS. Đỗ Quang Hưng, thuộc tủ sách Thăng Long ngàn năm văn hiến, ngay từ những trang đầu tiên, người đọc đã có cảm nhận đây là một cuốn sách rất bổ ích với mọi đối tượng người đọc hiện nay. Sau khi đọc toàn quyển, tôi có một số nhận xét, theo từng phần cuốn sách như sau: 1. Phần I: Không gian tâm linh tôn giáo của Thăng Long - Hà Nội. Phần này tác giả đã làm rõ được 4 vấn đề cơ bản, đó là; Trước tiên, trên vấn đề “Không gian thiêng và đời sống tôn giáo”, cuốn sách đã có được các khái niệm “không gian thiêng” và “đời sống tôn giáo”, nhằm làm cơ sở để người đọc có thể hiểu biết rõ và chính xác về những vấn đề tiếp sau. Tiếp đến, đã rất hay và khá toàn diện khi tác giả khái quát được 4 đặc điểm của “không gian tâm linh tôn giáo” Thăng Long – Hà Nội. Rồi nữa, vấn đề “Tôn giáo, tín ngưỡng ở khu phố cổ Hà Nội”, được tác giả khẳng định đó là “ vòng xoáy của không gian tâm linh” của thủ đô Hà Nội. Khẳng định cho kết luận này, tác giả đã có những luận chứng xác đáng. Cuối cùng tại chương này, tác giả đã đưa ra, bằng phương pháp khái quát, về “Hệ thống tín ngưỡng của Hà Nội”. Đây là những thành công đầu tiên, với rất nhiều ý nghĩa lý luận và lịch sử. Tuy nhiên, người đọc nhận thấy: - Việc tác giả khẳng định: “cư dân Thăng Long hiện nay phổ biến đều có bàn thờ thổ công trong nhà...”, thì điều này có lẽ nên xem lại, vì chưa chắc đã là phổ biến. Hiện nay, theo ngươi đọc, người dân Thăng Long nói riêng và người Bắc Bộ nói chung vẫn ít thờ thổ công, còn về bát hương, thường chỉ có 1. Khái quát trên có lẽ là phù hợp với người dân phía Nam nước ta hiện nay. - Trong tiểu tiết:“Hệ thống tín ngưỡng của Hà Nội” được đưa ra như là nét chấm phá ban đầu, cũng rất cần thiết, song trong đó, nội dung về “đạo lạ” là quá dài, không cần thiết và không cân đối với toàn bộ nội dung này (9 trang/45 trang). Thiết nghĩ nên rút gon hơn, để vừa đủ rõ cho người đọc, nhằm bổ sung cho nhận thức tổng thể hệ thống tín ngưỡng của Hà Nội. Ngoài ra, ngay ở phần đầu tiên của Phần I, tác giả nên có một tiểu mục để định nghĩa, làm rõ các khái niệm: “tín ngường”, “tín ngưỡng dân gian” và “tôn giáo”... 2. Phần II: Các tôn giáo chính ở Hà Nội Tại chương này, nội dung được làm rõ trên các vấn đề: 1/ Phật giáo ở Hà Nội, 2/ Khổng giáo ở Hà Nội 3/ Đạo Giáo ở Hà Nội, 4/ Công giáo ở Hà Nội, 5/ Tin lành ở Hà Nội, 6/ Cao đài ở Hà Nội, ở phẩn II này, nhìn chung nội dung được luận giải phong phú nhưng tập trung, nhất là ở phần Phật giáo, sau đó là Tin lành và Công giáo. Trong đó, tác giả đã làm nổi bật được qúa trình lịch sử khẳng định và phát triển của các tôn giáo này trên đất Thăng Long - Hà Nội. Người đọc thấy có một số cần sửa đổi hoặc bổ sung: - Nội dung Phật giáo, tên địa danh Hà Bắc “hiện nay”, nên đổi là Bắc Ninh, vì Hà Bắc đã tách tỉnh rồi. Từ “người Tầu”, nếu không phải là câu trích nguyên văn thì nên gọi là người Trung Quốc. - Khổng giáo, phân kỳ “thời kỳ tự chủ, độc lập” với nội dung như bản thảo, nên đổi là “thời kỳ đầu tự chủ, độc lập”, hoặc để theo như phân kỳ sau đó, thì nên là “Nho giáo thời kỳ Ngô, Đinh, Tiền Lê”. - Đạo giáo, nên gọn hơn ở nội dung tiểu tiết: “Những hình thức thờ cúng của Đạo giáo ở Hà Nội”; hơn nữa, đây là nội dung chung về Đạo giáo, còn tính Hà Nội mờ, nên có thể bớt từ “Hà Nội”. Tiểu tiết: một số di tích nổi tiếng liên quan đến Đạo giáo ở Hà Nội, nên tăng hàm lượng cho nội dung hoạt động của nó, thay vì chỉ giới thiệu như một địa chỉ. - Tin lành, nên cập nhật nhân sự của Hội thánh Tin lành miền Bắc vừa đại hội đầu năm nay, (2009), trang 149. Về sự giúp đỡ của Đảng, Nhà nước... cho Tin lành nên diễn đạt lại, trang 158. Về việc MS. Bùi Hoành Thử chủ tọa ở Hà Nội từ 1972 đến nay, nên sửa lại. Câu trích Lê Hoàng Phu không có nguồn, và cũng nên bớt câu này. - Ngoài ra, theo logic kết cấu, nếu Phật giáo và Công giáo có khái quát các đặc diểm thì ở các tôn giáo khác cũng nên có đặc điểm và đây là nội dung rất hay, có nhiều ý nghĩa. - Điều phân vân của người đọclà, đến nay, sẽ rất có không ít người không đồng tình khi tác giả coi: Khổng giáo và Đao giáo là tôn giáo. Theo người đọc được biết, ở Trung Quốc hiện nay, Nho giáo cũng không được xem là một tôn giáo, có chăng chỉ có Đạo giáo mà thôi. Còn ở nước ta, cả Khổng giáo và Đạo giáo thường chỉ được coi là các hình thức tín ngưỡng, hoặc “có tính chất tôn giáo”, “từ phương diện tôn giáo” mà thôi. Tất nhiên, nếu khái niệm tôn giáo được định nghĩa bằng một nội hàm hẹp, rất hẹp thì hầu như mọi dấu hiệu tin và thực hành nghi lễ thờ cúng cái siêu nhiên đều có thể được coi là tôn giáo (ngoại diên khái niệm). Theo đó, khái niệm như chúng ta từng gọi: “tín ngưỡng dân gian” sẽ có thể không cần nữa. Điều này là không phù hợp với sự phát triển của khái niệm, phạm trù. Nhận thức chỉ mở mang và phát triển khi khái niệm, phạm trù ngày càng nhiều, càng giàu. Vậy, người đọc khuyến nghị để tác giả có thể xem lại, từ đó đưa ra giải pháp cụ thể cho tình hình này. 3. Phần III; Sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng của người Thăng Long - Hà Nội Phần này có tầm quan trọng đặc biệt của cuốn sách và cũng là một trọng tâm. Tại đây cuốn sách sẽ thể hiện được nhiều cái mới của riêng tác giả trên vấn đề này. Nội dung bản thảo cuốn sách ở phần III này đã luận giải khá rõ nét về nhiều vấn đề khác nhau. Người đọc chủ yếu đưa ra những ý kiến nhằm hoàn thiện nó. Cụ thể: - Lý thuyết và khung cảnh. Về lý thuyết là tốt, song “khung cảnh” nói là có 3 giai đoạn, nhưng trình bày mới chỉ có 2. - Sự chuyển biến sinh hoạt tín ngưỡng. Cũng đã rõ và cụ thể, song vì có 3 thời kỳ: Cổ truyền, Âu hóa và hiện đại, nên cần tăng cường thêm cho phương pháp so sánh để thấy những nội dung khác nhau tiêu biểu ở giữa các thời kỳ. - Người Phật giáo ở Thăng Long – Hà Nội. Nội dung này phân tích rất tốt, song cũng còn một số trùng lặp với nội dung Phật giáo được trình bày ở Phần II. Nội dung vấn đề ”Phật giáo hiện nay” có lẽ là quan trọng hơn cả, vậy cần phân tích sâu thêm. - Người Công giáo ở Thăng Long – Hà Nội. Phân tích khá tốt, do có tư liệu chính thống, như báo cáo của ủy ban đoàn kết Công giáo. Nhưng cần diễn đạt cho rõ hơn ở một số ý, như việc “cấm con em giáo dân đến học trường công lập” thì không rõ là ai cấm?, trang 220. - Những người áo trắng” ở Hà Nội, Người Muslim ở hà Nội và Người Tin lành ở Hà Nội. Nhìn chung phân tích được những biến đổi cơ bản của họ ở Hà Nội hiện nay. - Nhìn chung, khi phân tích và khái quát về sinh hoạt của các tôn giáo ở Hà Nội, theo người đọc, cần đi sâu vào tình hình hiện nay, còn tình hình về trước đó chỉ nên có nhằm để so sánh với thời nay mà thôi, vì về cơ bản nó đã được trình bày tại các phần trên. Đặc biệt, khi luận giải những nội dung này nên dựa trên căn cứ chủ yếu là từ nguồn tư liệu vốn là những báo cáo, tổng kết tình hình tôn giáo của các cơ quan làm tôn giáo của hệ thống chính trị các cấp cũng như của giáo hội các tôn giáo đó, trong đó, cái trục cần bám sát là phương châm hành đạo của mỗi một tôn giáo và những yêu cầu của chính sách đối với tôn giáo của Đảng, nhà nước ta. Như thế, nội dung cuốn sách ở phần này sẽ đáng tin cậy hơn, lại động viên được đồng bào các tôn giáo, đồng thời logic vấn đề trình bày ở mỗi tôn giáo sẽ có sự thống nhất hơn. 4. Phần kết luận cuốn sách Kết luận cuốn sách hơi dài (10 trang), mà chỉ nên đưa ra khái quát những đặc điểm chung của đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở Hà Nội. Phần thư mục tư liệu tham khảo chưa sắp xếp theo dúng nguyên tắc trình bày tư liệu hiện hành. 5. Về kết cấu, phương pháp và hình thức trình bày Kết cấu cuốn sách có 3 phần như trên, cơ bản là phù hợp. Phương pháp từ trìu tượng đến cụ thể, phương pháp lịch sử với phương pháp logic được vận dụng rõ nét trong mọi vấn đề luận giải, tỏ ra hợp lý, có hiệu quả để triển khai biên soạn cuốn sách này. Hình thức diễn đạt rõ ràng, chính xác. Tuy nhiên cũng có một số câu chưa đủ thành phần. Đặc biệt, lỗi chính tả và kỹ thuật còn khá nhiều, cần được xem - sửa kỹ hơn. 6. Kết luận Bản thảo cuốn sách: "Đời sống tôn giáo, tín ngưỡng Thăng Long - Hà Nội" của GS. Đỗ Quang Hưng là một công trình khoa học, văn hóa rất giàu tư liệu và chính xác về nội dung, đã phản ánh đầy đủ về đối tượng nghiên cứu. Nó có giá trị nâng cao nhận thức cho nhiều loại độc giả trong và ngoài nước về "Đời sống tôn giáo, tín ngưỡng Thăng Long - Hà Nội". Tuy nhiên, để nâng cao chất lượng Bản thảo cuốn sách, cũng cần có sự tu chỉnh và bổ sung thêm một số điểm. Tôi đề nghị Hội đồng nghiệm thu ra quyết định nghiệm thu bản thảo cuốn sách.
TS. Nguyễn Mạnh Cường viết ngày 19/08/2011
Tôi đã xem lại bản sửa chữa của GS.TS Đỗ Quang Hưng sau những góp ý của chúng tôi trong buổi nghiệm thu ngày 18/01/2008 vừa qua. Nhìn chung thì GS.TS Đỗ Quang Hưng đã có tiếp thu những ý kiến góp ý của Hội đồng, tuy rằng những tiếp thu này là ít vì hầu như đề cương sách vẫn y như cũ. Khi góp ý với GS.TS Đỗ Quang Hưng xung quanh nội dung và cách thể hiện sách, chúng tôi không phải đòi hỏi một cái gì lớn mà chỉ mong sao cho bản đề cương sách thật hoàn chỉnh và sau này cuốn sách ra mắt bạn đọc cho nó thực sự là một tác phẩm hay. Tôi cũng biết rằng, trong nhiều góp ý của mình có thể có những đòi hỏi hơi cao quá so với trình độ bạn đọc phổ thông, vì chúng tôi là người trong nghề. Thêm nữa, mỗi người sẽ có một cách thể hiện của mình. Do vậy, tôi tôn trọng những ý kiến cũng như cách thể hiện của GS.TS Đỗ Quang Hưng. Rất mong NXB Hà Nội nên sớm ký hợp đồng với tác giả (Nếu thấy được) để tác giả có thời gian, có kinh phí thực hiện bản thảo này. Tôi cũng hy vọng rằng vào đúng ngày kỷ niệm 1000 Thăng Long - Hà Nội, bạn đọc thủ đô sẽ có một cuốn sách viết về Đời sống tôn giáo tín ngưỡng đúng hạn và hay.
TS. Đậu Tuấn Nam viết ngày 19/08/2011
Đọc đề cương cuốn sách “Đời sống tôn giáo, tín ngưỡng Thăng Long - Hà Nội” đã được GS.TS. Đỗ Quang Hưng chỉnh sửa tôi có nhận xét như sau: Về cơ bản nội dung bản thảo cuốn sách “Đời sống tôn giáo, tín ngưỡng Thăng Long - Hà Nội” lần này được kết cấu theo logic của bản thảo trước, với các chương, mục không có gì thay đổi. Nhưng trên cơ sở ý kiến đóng góp của các thành viên trong Hội đồng và kết luận của Hội đồng nghiệm thu ngày 18/1/2008, GS.TS. Đỗ Quang Hưng đã tiến hành sữa chữa mà nói đúng hơn là bổ sung/tăng thêm nồng độ “tín ngưỡng, tôn giáo truyền thống của Hà Nội” và có điều chỉnh để làm rõ thêm một số nội dung trong các tiết của từng chương. Lẽ dĩ nhiên, bản thảo cuốn sách cũng đã phản ánh được đời sống tôn giáo, tín ngưỡng của Thăng Long - Hà Nội theo 3 mảng lớn: các hình thức tôn giáo, tín ngưỡng bản địa; các tôn giáo nhập nội; và các “hiện tượng tôn giáo mới” ở Hà Nội hiện nay. Cuốn sách cũng sẽ giúp người đọc có cái nhìn sâu hơn về quá trình hình thành và phát triển, cũng như những vấn đề cơ bản (cả về phương diện chính trị, văn hóa, xã hội và tôn giáo học) của một số tôn giáo chính ở Hà Nội (như Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao Đài và Hồi giáo). Và người đọc cũng sẽ thấy được một “không gian” sinh động của đời sống tôn giáo Hà Nội trong bối cảnh mở cửa hội nhập, toàn cầu hóa hiện nay. Tôi nghĩ rằng, đây mới chỉ là đề cương của một cuốn sách, nên những nội dung thể hiện trong bản thảo đề cương là có thể chấp nhận được nếu không nói là khá tốt. Đề nghị Nhà xuất bản cho ký hợp đồng biên soạn cuốn sách này.
PGS.TS. Ngô Hữu Thảo  viết ngày 19/08/2011
Lần thứ hai đọc bản đề cương cuốn sách: "Đời sống tôn giáo, tín ngưỡng Thăng Long - Hà Nội" của GS.TS. Đỗ Quang Hưng, thuộc tủ sách Thăng Long ngàn năm văn hiến, tôi có mấy nhận xét như sau: Trước hết, bản đề cương lần này đã được chỉnh sửa theo tinh thần của Hội đồng nghiệm thu, ngày 18/1/2008. Về kết cấu, cuốn sách có 4 chương và như vậy, về cơ bản là phù hợp với nguyên tắc logic hình thức. Với kết cấu này, nếu nội dung mỗi chương được trình bày với sự cân đối trong mối quan hệ với toàn bộ cuốn sách, thì tin rằng cuốn sách chẳng những sẽ đạt đến mục tiêu đã được xác định, mà còn đảm bảo về tính hình thức. Về phương pháp, qua kết cấu của cuốn sách, người đọc nhận thấy đã thể hiện khá rõ về mặt phương pháp, là đi từ trìu tượng đến cụ thể và đã kết hợp được phương pháp lịch sử với phương pháp logic. Đấy là những phương pháp có ưu thế và là hợp lý để luận giải những nội dung như cuốn sách này. Về nội dung cuốn sách, đây là vấn đề căn bản nhất, và lần sửa này, tác giả đã coi trọng hơn vào việc bổ sung một cách thích đáng cho nội dung: “Các hình thức tín ngưỡng của Hà Nội”. Qua sự bổ sung này, tác giả đã làm cho cuốn sách được toàn diện, đúng như tiêu đề của cuốn sách, lại phù hợp với tính chất khách quan của đối tượng mà tác giả phải tiếp cận và thể hiện. Hy vọng khi cuốn sách ra đời, nội dung của nó sẽ thể hiện được đầy đủ như bản đề cương. Cuối cùng, người đọc cho rằng, đề cương cuốn sách: "Đời sống tôn giáo, tín ngưỡng Thăng Long - Hà Nội" của GS. Đỗ Quang Hưng sau khi được chỉnh sửa, đã thể hiện là một công trình khoa học có nhiều giá trị hợp lý, cả về nội dung và phương pháp. Nội dung chỉnh sửa là phù hợp với tinh thần của Hội đồng nghiệm thu ngày 18/1/2008. Tôi đề nghị Hội đồng nghiệm thu và Ban chỉ đạo nghiệm thu chính thức Bản đề cương đã chỉnh sửa này; xin chúc GS. Đỗ Quang Hưng thành công mỹ mãn, đóng góp xứng đáng vào Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội.
TS. Hoàng Phong Hà viết ngày 19/08/2011
Thực hiện yêu cầu của Ban Quản lý Dự án Điều tra, sưu tầm, biên soạn và xuất bản Tủ sách Thăng Long ngàn năm văn hiến, tôi đã đọc kỹ Đề cương chi tiết bản thảo Đời sống tôn giáo, tín ngưỡng Thăng Long - Hà Nội và xin có một số ý kiến sau: 1. Với cách trình bày ngắn gọn, súc tích, đề cương chi tiết Đời sống tôn giáo, tín ngưỡng Thăng Long - Hà Nội đã phác họa được bức tranh toàn cảnh khá cụ thể, toàn diện và có chiều sâu về những nội dung cơ bản nhất trong đời sống tôn giáo, tín ngưỡng Thăng Long - Hà Nội. Qua đó đã làm rõ được vấn đề: Thăng Long - Hà Nội với “quá khứ vàng son nghìn thuở” và vị thế hiện tại, không chỉ xứng đáng là trái tim của cả nước, là trung tâm đầu não về chính trị, văn hóa, khoa học, kinh tế, mà còn là nơi có “không gian tín ngưỡng tôn giáo khá tiêu biểu”. 2. Bố cục cuốn sách được chia thành 4 chương là hợp lý. Nội dung 4 chương kết dính với nhau, đã làm rõ được chủ đề của cuốn sách. - Chương I: Trình bày khái quát hệ thống tôn giáo, tín ngưỡng của Thăng Long - Hà Nội, trong đó tập trung vào ba mảng chính: Các hình thức tôn giáo, tín ngưỡng bản địa: các tôn giáo nhập nội (với hệ thống tôn giáo và sự du nhập của một số tôn giáo khác như Công giáo, Tin lành…); hiện tượng tôn giáo mới ở Hà Nội…. - Chương II: Tác giả tập trung trình bày quá trình hình thành và phát triển với những đặc điểm riêng của các tôn giáo chính có mặt ở Thăng Long - Hà Nội: Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao Đài, Hồi giáo… - Chương III: Tập trung trình bày sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng ngày nay của một số tôn giáo chính: Đạo Phật, Công giáo, Tin lành, Cao Đài… - Chương IV: Trên cơ sở đưa ra cái nhìn tổng quan về tình hình tôn giáo ở Hà Nội, tác giả nêu lên một số vấn đề mang tính cấp thiết đòi hỏi xã hội, các cấp chính quyền cần quan tâm, chú ý giải quyết trên con đường xây dựng và phát triển Thủ đô. 3. Thông qua đề cương chi tiết, có thể thấy cuốn sách Đời sống tôn giáo, tín ngưỡng Thăng Long -Hà Nội không chỉ tiếp thu, kế thừa và hệ thống hóa những thành tựu nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước, mà còn đưa ra một số kết quả nghiên cứu, luận chứng mới có giá trị về “không gian tín ngưỡng tôn giáo” của Thăng Long - Hà Nội. Đây là một đóng góp rất lớn của cuốn sách này, đặc biệt trong tình hình hiện nay thì điều đó rất có ý nghĩa, thiết thực. Nhân dịp này, chùng tôi cũng muốn được trao đổi thêm với tác giả về một số điểm với mục đích nhằm hoàn thiện đề cương chi tiết trước khi chuyển sang khâu biên soạn: 3.1 Nội dung sách nên trình bày sâu hơn về vấn đề tín ngưỡng. Đây là một bộ phận rất quan trọng trong đời sống tâm linh của người Việt Nam nói chung và người dân Thăng Long - Hà Nội nói riêng. Số người Việt Nam là tín đồ của một tôn giáo với đầy đủ ý nghĩa của nó không nhiều, trong khi đó, hầu hết các gia đình, dòng họ người Việt Nam đều thờ cúng tổ tiên, các làng, các phố đều thờ thành hoàng… Ngay cả việc đi lễ chùa, lễ đền, lễ quán… của nhiều người cũng chỉ mang màu sắc tín ngưỡng chứ chưa phải là tín đồ tôn giáo. 3.2 Trong chương I, tác giả tập trung trình bày hệ thống tôn giáo, tín ngưỡng của Thăng Long - Hà Nội, những chưa nêu được đặc điểm riêng của đời sống tôn giáo, tín ngưỡng của Thăng Long - Hà Nội và mối quan hệ tương hỗ trong đời sống tôn giáo giữa Thăng Long - Hà Nội với các địa phương trong cả nước. Đề nghị tác giả tập trung làm rõ hơn về mối quan hệ này. 3.3 Trong chương IV, đề nghị tác giả dự báo và phân tích sâu hơn xu thế phát triển của đời sống tôn giáo, tín ngưỡng của Thủ đô trong thời gian tới, nhằm làm cơ sở để các nhà quản lý hoạch định những chính sách phù hợp. Kết luận: Đề cương chi tiết cuốn sách Đời sống tôn giáo tín ngưỡng Thăng Long - Hà Nội đã được chuẩn bị khá kỹ lưỡng, công phu, đáp ứng yêu cầu, mục đích đặt ra. Nếu được bổ sung và hoàn chỉnh thêm, sau khi ra mắt bạn đọc, cuốn sách sẽ là món quà quý góp phần kỷ niệm 1000 năm Thăng Long văn hiến, đồng thời sẽ cung cấp cho bạn đọc, nhất là các nhà nghiên cứu lịch sử văn hóa, các nhà hoạch định chính sách, những người dân của Thủ đô Hà Nội thân yêu một tài liệu nghiên cứu, tham khảo rất bổ ích. Nhân đây chúng tôi cũng xin kiến nghị với Ban Quản lý Dự án Điều tra, sưu tầm, biên soạn và xuất bản Tủ sách Thăng Long ngàn năm văn hiến: Đây là một đề tài khó và rất có giá trị. Để hoàn thành tốt việc nghiên cứu đề tài này đòi hỏi tác giả phải mất nhiều công sức sưu tầm, biên dịch, đối chiếu, so sánh, tra cứu khá nhiều tài liệu và phải dành không ít thời gian để khảo sát địa vực hành chính của đất Thăng Long -Hà Nội. Vì vậy, cần phải dành cho đề tài nguồn kinh phí xứng đáng.
TS. Đậu Tuấn Nam viết ngày 19/08/2011
Đọc đề cương của cuốn sách “Đời sống tôn giáo, tín ngưỡng Thăng Long - Hà Nội” do GS, TS Đỗ Quang Hưng chủ biên tôi xin có một vài chia sẻ như sau: 1. Thăng Long - Đông Đô - Đông Kinh - Hà Nội là Kinh thành, Kinh đô, Thủ đô của nước Việt Nam từ năm Canh Tuất (1010), đây không chỉ là trung tâm chính trị, văn hóa, xã hội của đất nước mà còn là nơi có một “không gian” tôn giáo, tín ngưỡng khá tiêu biểu, với một “hệ thống tôn giáo, tín ngưỡng” hết sức phong phú, góp phần làm nên một Thăng Long ngàn năm văn hiến với nhiều giá trị đặc sắc. Vì vậy, việc biên soạn và xuất bản cuốn “Đời sống tôn giáo, tín ngưỡng Thăng Long - Hà Nội” không chỉ có giá trị về mặt khoa học mà còn mang ý nghĩa thiết thực to lớn chào mừng chương trình kỷ niệm 1000 năm Thăng Long của Nhà nước ta và Thủ đô Hà Nội. 2. Tuy nhiên, cũng phải khẳng định rằng, từ lâu vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng của Thăng Long-Hà Nội đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Cũng đã có không ít công trình nghiên cứu về các tôn giáo, tín ngưỡng cụ thể ở Hà Nội, nhưng có coi đây là công trình nghiên cứu đầu tiên trình bày tôn giáo, tín ngưỡng Thăng Long-Hà Nội một cách có hệ thống theo 3 mảng lớn: các hình thức tôn giáo, tín ngưỡng bản địa; các tôn giáo nhập nội; và các “hiện tượng tôn giáo mới” (đạo lạ) ở Hà Nội hiện nay. 3. Từ cách tiếp cận lịch sử, nhân học và xã hội học tôn giáo cuốn sách sẽ cho người đọc có được cái nhìn sâu hơn về quá trình hình thành và phát triển, cũng như những vấn đề cơ bản (cả về phương diện chính trị, văn hóa, xã hội và tôn giáo học) của một số tôn giáo chính ở Hà Nội (như Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao Đài và Hồi giáo); đồng thời người đọc cũng sẽ thấy một “không gian” sinh động của đời sống tôn giáo Hà Nội trong bối cảnh mở cửa hội nhập, toàn cầu hóa và có được một cái nhìn tổng quan về đời sống tôn giáo Hà Nội với những vấn đề cấp bách đặt ra trong khung cảnh đổi mới đất nước hiện nay. Tôi cho rằng, trên đây là hướng tiếp cận mới, phù hợp với “không gian” tôn giáo, tín ngưỡng của Thăng Long - Hà Nội. 4. Có thể nói, đây là một đề cương nghiên cứu có giá trị, phản ánh được đời sống tôn giáo, tín ngưỡng của Thăng Long - Hà Nội. Thành công đến đâu còn là tuỳ thuộc vào cái Tài và cái Tâm của người cầm bút. Riêng với Giáo sư Đỗ Quang Hưng một người có nhiều thành công trong sự nghiệp nghiên cứu sử học, tôn giáo học của mình, tôi tin rằng chúng ta sẽ được đón đọc một công trình nghiên cứu công phu, nghiêm túc và có giá trị về đời sống tôn giáo, tín ngưỡng Thăng Long- Hà Nội. Và tôi cũng đề nghị Hội đồng đánh giá cao đề cương bản thảo này.
PGS.TS. Ngô Hữu Thảo viết ngày 19/08/2011
Đọc bản đề cương chi tiết cuốn sách: "Đời sống tôn giáo, tín ngưỡng Thăng Long - Hà Nội" của GS.TS. Đỗ Quang Hưng (nếu có cả phần mục đích, phương pháp thì tốt hơn), tôi có một số nhận xét như sau: 1. Về kết cấu và phương pháp Cuốn sách có 4 chương, về cơ bản là phù hợp với logic hình thức. Kết cấu đó đã làm nổi bật lên phương pháp trình bày chính, là đi từ trìu tượng đến cụ thể; kết hợp được phương pháp lịch sử với phương pháp logic. Song tôi thấy: - Rất có thể chương IV sẽ bị “lép”, tạo ra sự mất cân đối so với các chương khác. - Khi trình bày, chương III sẽ có những nội dung trùng nhiều với chương I và II. 2. Về nội dung Cuốn sách có nội dung rất phong phú, sẽ là rất bổ ích với người đọc sau này. Nó góp phần nâng cao nhận thức cho đọc giả về một lĩnh vực rất gần gũi, đó là đời sống tín ngưỡng, tôn giáo. Nhưng nếu để có sự am hiểu thấu đáo về nó, hơn nữa, để tự giác và làm chủ được trong thụ hưởng, thì theo kinh nghiệm của người đọc, lại là không mấy dễ ràng đối với nhiều người. Vì vậy, cuốn sách mặc dù chưa ra mắt bạn đọc, song rất tin tưởng vào GS. Đỗ Quang Hưng, tôi biết chắc chắn nhiều người sẽ thích thú nó, trong đó có tôi. Tuy nhiên, người đọc nhận thấy, nội dung về “các hình thức tín ngưỡng”, tác giả cũng nên rất coi trọng để đưa vào sách. Bởi vì, trên đời sống văn hoá tinh thần của Hà Nội, nổi bật lên không chỉ về các hiện tượng tôn giáo mà còn ở cả hiện tượng tín ngưỡng nữa. 3. Vậy, nếu là người đọc thì: Tôi sẽ thiết kế sách gồm 3 chương: Chương I: Đặc điểm hệ thống tôn giáo, tín ngưỡng của Thăng long - Hà Nội. Chương này gồm 5 tiết (3 tiết đã có với 2 tiết nữa, khái quát từ 3 tiết của chương IV lên). Có thể: 1/ Các hình thức tôn giáo và tín ngưỡng bản địa... 2/ Các tôn giáo nhập nội.... Nhưng sẽ khó khi nói: Lão và Nho là tôn giáo và bảo đạo Cao Đài là “nhập nội”. 3/ Hiện tượng tôn giáo mới..... Một số tôn giáo mới, nếu hiểu từ phương diện “nhập nội” cũng đúng. 4/ Tôn giáo, tín ngưỡng ở Hà Nội - ý nghĩa trong lịch sử dựng nước và giữ nước từ lịch sử đến đương đại. 5/ Tôn giáo, tín ngưỡng ở Hà Nội - ý nghĩa văn hoá, chính trị và hội nhập quốc tế. Chương này, như GS. Đỗ Quang Hưng đã xác định, là “khái quát”, vậy đây cũng như vậy, chỉ có điều không dừng lại ở “cứ liệu lịch sử”, mà mở rộng đến “đương đại”. Chương II: Các tôn giáo chủ yếu của Thăng long - Hà Nội: lịch sử và hiện tại 1/ Phật giáo 2/ Công giáo 3/ Tin lành 5/ Cao đài 5/ Hồi giáo Các tiết này làm rõ: các tôn giáo đó là gì? Nó như thế nào (hôm qua và hôm nay, thậm chí ngày mai nữa)? Chính vì thế, Chương III cũ được sử dụng tại đây. Chương III: Các hình thức tín ngưỡng chủ yếu của Thăng long - Hà Nội: lịch sử và hiện tại 1/ Thờ các vị anh hùng dân tộc 2/ Thờ Tổ tiên (các cấp) và Thần Thành hoàng 3/ Thờ Mẫu 4/ Phồn thực (đã mất nhưng cũng hay khi nhắc lại, và biết đâu sau này lại có) 5/ ................ Chương này sẽ rất hay về phương diện văn hoá vật thể, phi vật thể và có nhiều ý nghĩa đối với công tác văn hoá hiện nay. Đồng thời nó làm cho cân đối về nội dung với chương Tôn giáo trên, lại đảm bảo một cấu trúc toàn diện theo như tên sách. * Kết luận: Đề cương cuốn sách: "Đời sống tôn giáo, tín ngưỡng Thăng Long - Hà Nội" của GS. Đỗ Quang Hưng đã là một công trình khoa học có rất nhiều giá trị hợp lý, cả về nội dung và phương pháp. Nhưng thời gian vẫn đang còn nhiều, vì thế, rất mong muốn Giáo sư tìm kiếm thêm một vài dự kiến kết cấu khác nhau, như thế chắc chắn sẽ chọn được một đề cương hợp lý nhất (đề cương nào rồi cũng có những cái không hợp lý). Những gì tôi góp ý trên đây chính là với mong muốn đó, xin để tham khảo. Chúc GS. Đỗ Quang Hưng và Nhà xuất bản Hà Nội, Ban Quản lý dự án thành công.
  • Thời tiết - Tỉ giá
  • Giá vàng
    Tỉ giá