Phác họa Hà Nội - Trái tim đất nước theo chiều dài lịch sử
Những cao ốc điểm tô ánh sáng màu, chênh chếch tạc vào màn đêm... Những cuộc đời vội vã, đến rồi đi, nhẹ nhàng như một tiếng thở của cả ngàn năm lịch sử nhưng vẫn kịp đọng lại dấu chân như chứng minh cho một thực tế: mỗi giai đoạn lịch sử, Hà Nội lại khoác lên mình một lớp áo mới, những trầm tích đan xen giữa truyền thống văn hiến và các giá trị hiện đại chắt lọc, bồi đắp cho vẻ linh thiêng, hào hoa nhưng kiên cường, bản lĩnh giữa lòng dân tộc. Phía xa xa, con sông Hồng đỏ nặng phù sa - chứng nhân của lịch sử, vẫn miệt mài vươn mình về phía biển...
Với nỗ lực của giới khoa học lịch sử, văn hoá, khảo cổ trong thời gian gần đây; những huyền thoại, truyền thuyết cổ xưa về quá trình chinh phục mảnh đất nằm phía tây bắc châu thổ sông Hồng đã dần được giải mã. Cùng với đó, bức tranh toàn cảnh về quá trình biến chuyển về địa lý, cấu trúc đô thị và văn hoá theo thời gian, trước và sau khi xuất hiện "ngôi làng Long Đỗ", thành Đại La; những cuộc di dân, những cố gắng không mệt mỏi trong việc trị thuỷ, chế ngự thiên nhiên, đắp đê, thông dòng, đào kênh phục vụ nhu cầu sinh tồn và sắp xếp theo khoa học phong thuỷ; biến mảnh đất toàn đầm lầy, rừng rậm, quanh năm lũ lụt thành một khu vực trù phú đã dần được sáng tỏ.
Đỉnh cao của việc dung hoà giữa hai thế lực đối lập ("sơn", "thuỷ") và những xung đột văn hoá, sinh thái, trong qua trình chinh phục mảnh đất "rồng bay" chính là quyết định dời đô của Hoàng đế Lý Thái Tổ năm 1010 về mảnh đất địa linh nhân kiệt này sau khi lập nước. Kể từ ấy, mảnh đất nằm giữa các con sông lớn mang một tâm thế và tầm vóc mới, đúng như tên gọi của nó: Kinh thành Thăng Long. Cùng với sự tập trung các tầng lớp tinh tuý trong xã hội; sự kiện dời đô của Lý Thái Tổ là một dấu mốc quan trọng đánh dấu quá trình chuyển biến mạnh mẽ của cấu trúc cư dân, văn hoá, đô thị trên mảnh đất này. Các công trình cung điện, tôn giáo, chính trị như Hoàng Thành, chùa Diên Hựu, chùa Báo Thiên, Văn Miếu, Quốc Tử Giám, đền Đồng Cổ, chuông Quy Điền... nhanh chóng được xây dựng và đi cùng với nó là những giá trị văn hoá phi vật thể như là biểu tượng của một nhà nước độc lập. Chỉ sau khoảng một thế kỷ, Thăng Long đã mang dáng vẻ của một kinh đô phồn thịnh, trở thành trung tâm văn hoá, chính trị, kinh tế của quốc gia. Cũng kể từ ấy, chốn "thượng đô kinh sư" này trở thành nơi tụ hội linh khí quốc gia, tiếp nhận, sàng lọc những giá trị văn hoá tinh tuý của mọi miền đất nước, bồi đắp thành một nền văn hiến kết tinh độc đáo; tạo dựng và để lại cho hậu thế một hệ thống di sản đa dạng, phong phú, đặt nền móng cho sự phát triển mãnh liệt của đất nước.
Theo sự biến chuyển của thời gian, triều đại nhà Trần tiếp quản quyền lực từ nhà Lý, tiếp tục duy trì kinh đô tại Thăng Long. Với tinh thần khai phóng, 174 năm cai trị của nhà Trần trở thành một trong những giai đoạn phát triển mạnh mẽ nhất trên các lĩnh vực văn hoá, kinh tế, chính trị, quân sự của dân tộc. Nền văn hiến Thăng Long trong giai đoạn này tiếp tục được bồi đắp, không chỉ bởi các công trình kiến trúc văn hoá, mỹ thuật liên tục được mở rộng, các giá trị văn hoá phi vật thể liên tục được sàng lọc, bổ sung mà còn là sự quy tụ, gia tăng mạnh mẽ của các học giả, trí thức, thương nhân, thợ thủ công, bao gồm cả các bộ phận cư dân ngoại quốc tinh tuý. Kinh thành Thăng Long ba lần bị quân Nguyên Mông chiếm giữ nhưng đều kết thúc bằng các chiến thắng oanh liệt của nhà nước Đại Việt là một minh chứng sống động về sức sống mãnh liệt của mảnh đất "rồng thiêng" và tinh thần quật cường của dân tộc.
Năm 1400, Hồ Quý Ly thâu tóm quyền lực, ép vua Trần dời đô về Thanh Hoá, Thăng Long được đổi tên thành Đông Đô. Liền sau đó, nhà nước Đại Ngu của Hồ Quý Ly bị nhà Minh xâm lược, Đông Đô bị ngoại bang chiếm đóng. Sau thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, năm 1428, Lê Lợi lên ngôi hoàng đế, Đông Đô lấy lại vị thế kinh thành và được đổi tên thành Đông Kinh. Dưới thời thịnh trị của nhà Lê, với tư tưởng kết hợp giữa đức trị và pháp trị, kinh đô tiếp tục được mở rộng. Sự phức tạp của chính trị với mô hình "lưỡng đầu chế" từ thời Lê Trung hưng đã góp phần làm cho kinh đô mang một diện mạo mới. Bên cạnh Hoàng Thành của vua Lê như là một biểu tượng của nhà nước quân chủ chuyên chế, phủ chúa Trịnh được xây dựng trong hơn một thế kỷ ở phía tây nam Hồ Gươm, là một công trình đồ sộ với nhiều cung điện và các kiến trúc xa hoa lộng lẫy, trở thành biểu tượng của trung tâm quyền lực quốc gia. Cũng chính trong giai đoạn này, nhờ sự phát triển của ngoại thương và nền kinh tế hàng hoá, Thăng Long còn được gọi với một tên khác là Kẻ Chợ, trở thành một đô thị phồn thịnh, sầm uất quy tụ cư dân từ nhiều nơi, bao gồm cả các nhà buôn, nhà truyền giáo, trí thức từ phương tây tới sinh sống. Kinh thành bắt đầu dung nạp và chuyển hoá những giá trị văn hoá hoàn toàn mới, đặt nền móng cho quá trình đô thị hoá toàn diện trong giai đoạn sau.
Năm 1802, triều đại Tây Sơn đi hết vai trò lịch sử trong việc chống ngoại xâm, thống nhất đất nước sau một thời gian tồn tại ngắn ngủi. Vua Gia Long lên ngôi, bắt đầu nhà Nguyễn, định đô ở Phú Xuân. Trong một cuộc cải cách hành chính năm 1831, tỉnh Hà Nội được thành lập gồm 4 phủ, 15 huyện. Tuy mất đi vị thế kinh đô nhưng ở giai đoạn này, Hà Nội lại phát triển theo một hướng khác biệt với giai đoạn trước. Quá trình tiếp biến văn hoá diễn ra đồng thời với đô thị hoá, tạo ra một diện mạo hoàn toàn mới cho Hà Nội, đặc biệt từ thời Pháp thuộc. Cùng với những biến cố lịch sử, Hà Nội bắt đầu tiếp nhận và chuyển hoá những tư tưởng của thế giới hiện đại, trở thành một trong những điểm giao thoa quan trọng giữa các giá trị truyền thống ngàn đời của phương Đông với các giá trị văn minh của phương Tây trong khu vực. Sau sự thất bại của nhà Nguyễn trước "súng sắt", "tàu đồng", năm 1902, Hà Nội trở thành thủ phủ của toàn Liên bang Đông Dương dưới sự cai trị của người Pháp. Trên khắp Hà Nội, các công trình kiến trúc văn hoá được tạo dựng bởi nhà nước quân chủ chuyên chế dần nhường chỗ cho các kiến trúc mang đậm chất châu Âu hiện đại, được quy hoạch như một điển hình của đô thị phương Tây với Nhà hát Lớn, cầu Long Biên, Ga Hà Nội, phủ Thống sứ, nhà thờ, quảng trường, trường đại học, nhà máy, các khu dân cư, đường phố... để phù hợp cho tầng lớp dân cư mới với khoảng 4.000 dân châu Âu và 10.0000 dân bản địa sinh sống. Bên cạnh dáng dấp của một đô thị châu Âu, Hà Nội bắt đầu dung nạp những tri thức khoa học, các giá trị văn hoá nghệ thuật, các học thuyết tư tưởng hiện đại và cùng với đó là sự lớn mạnh của tầng lớp tư sản dân tộc, đội ngũ trí thức, công nhân... Chính điều này đã tạo cho Hà Nội một diện mạo mới, một tầm vóc bản lĩnh, văn hoá; đặt nền móng cho sự phát triển của đất nước Việt Nam trong kỷ nguyên hiện đại.
Năm 1945, tại quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Hà Nội chính thức trở thành thủ đô của một quốc gia độc lập tự do, đồng thời chính thức khoác lên mình một sứ mệnh hoàn toàn mới, sẵn sàng đương đầu với những thử thách to lớn của lịch sử dân tộc. Cuối năm 1946, chiến tranh Đông Dương bùng nổ, Hà Nội lại một lần nữa rơi vào sự kiểm soát của người Pháp. Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ chấm dứt 9 năm kháng chiến chống Pháp, ngày 10/10/1954, quân đội Việt Nam trở về tiếp quản, từ đây Hà Nội lấy lại vị thế thủ đô của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Tuy nhiên, ngay sau đó, lịch sử lại đặt lên vai Hà Nội một trọng trách nặng nề. Đồng thời với vai trò trung tâm chính trị với mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội, Hà Nội cùng với miền Bắc trở thành hậu phương lớn, vừa chiến đấu, vừa xây dựng, tiếp bước cho cuộc trường chinh vĩ đại giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước sau khi Mỹ can thiệp vào miền Nam Việt Nam. Khi cuộc chiến tranh leo thang, Hà Nội phải hứng chịu hàng loạt các cuộc tấn công khốc liệt với tuyên bố "đưa miền bắc Việt Nam trở về thời kỳ đồ đá" của đế quốc Mỹ mà đỉnh điểm là chiến dịch Linebacker II năm 1972 nhằm thẳng vào trung tâm đầu não của đất nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Tuy nhiên cuộc tập kích có cường độ lớn nhất trong lịch sử chiến tranh thế giới này không khuất phục được ý chí kiên cường của Hà Nội. Với bản lĩnh và truyền thống cả ngàn năm chống ngoại xâm, Hà Nội đã anh dũng đáp trả bằng chiến thắng Điện Biên Phủ trên không, đập tan mưu đồ của người Mỹ.
Sau thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, văn hoá, kinh tế của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, là nơi tụ hội các cơ quan lãnh đạo của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ; nơi diễn ra các kỳ họp quan trọng, từ đó đưa ra các nghị quyết, đường lối, sách lược quan trọng cho từng giai đoạn xây dựng, chiến đấu và bảo vệ Tổ quốc. Phát huy truyền thống và bản lĩnh, trong quá trình đổi mới, Hà Nội từng ngày thay đổi diện mạo để hội nhập nhanh chóng vào thế giới hiện đại với các thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến, các giá trị văn minh của nhân loại, xứng đáng với tầm vóc của một thủ đô ngàn năm văn hiến cũng như niềm tự hào của nhân dân cả nước.
Để đáp ứng nhu cầu phát triển trong giai đoạn mới, ngày 29/5/2008, Quốc hội đã thông qua nghị quyết mở rộng địa giới hành chính thủ đô lên 3324,92km2 về phía tây và phía nam, trở thành một những thủ đô lớn của thế giới. Hà Nội lại tiếp tục sẵn sàng cho những sứ mệnh mới. Qua hơn ngàn năm lịch sử, với bao thăng trầm biến đổi, Hà Nội nay vẫn là kinh đô văn hiến và ngày càng hiện đại, mãi là “trái tim hồng” đẹp đẽ và thiêng liêng của đất nước. Xa xa phía đông, bình minh đang lên xuyên qua những toà nhà cao vút. Dòng sông Hồng đỏ nặng phù sa tựa thế rồng bay - chứng nhân của lịch sử, vẫn miệt mài vươn mình về phía biển...
Hoàng Ly